Soạn Sử 9 Bài 17: Cách mạng Việt Nam trước khi Đảng Cộng sản ra đời

Photo of author

By THPT An Giang

Giải pháp cực kỳ hữu ích để học sinh lớp 9 nắm vững kiến thức Lịch sử Bài 17: Cách mạng Việt Nam trước khi Đảng Cộng sản ra đời

Cách mạng Việt Nam

Giải Lịch sử 9 trang 68 giúp các em hiểu thêm về quá trình phát triển của phong trào cách mạng Việt Nam và ba tổ chức cộng sản nổi tiếng. Soạn Lịch sử 9 bài 17 đã được trình bày rõ ràng, cẩn thận và dễ hiểu, giúp các em nhanh chóng làm bài tập và cung cấp tư liệu quý giúp giáo viên dễ dàng hướng dẫn học sinh trong quá trình học tập. Hãy cùng theo dõi nội dung bài soạn Lịch sử 9 Bài 17: Cách mạng Việt Nam trước khi Đảng Cộng sản ra đời dưới đây.

Lý thuyết về Cách mạng Việt Nam trước khi Đảng Cộng sản ra đời

I. Bước phát triển mới của phong trào cách mạng Việt Nam (1926 – 1927)

  • Phong trào công nhân:

    • Năm 1926 – 1927, nhiều cuộc bãi công của công nhân diễn ra, đáng chú ý nhất là cuộc bãi công của công nhân nhà máy sợi Nam Định, công nhân đồn điền cao su Cam Tiên, Phú Riềng và công nhân đồn điền cà phê Ray-na.
    • Phong trào công nhân lan tỏa từ Bắc vào Nam và đạt đỉnh điểm ở bãi công nhà máy sợi Nam Định, nhà máy diêm – cưa Bến Thủy, nhà máy xe lửa Trường Thi, nhà máy Ba Son, v.v.
    • Các cuộc đấu tranh có tính chất chính trị, thể hiện sự liên kết giữa các ngành nghề và địa phương.
  • Phong trào nông dân, tiểu tư sản và các tầng lớp nhân dân khác cũng phát triển, tạo thành làn sóng cách mạng dân tộc và dân chủ trên toàn quốc.

Xem thêm:  Soạn Sử 9 Bài 23: Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 và sự thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

II. Tân Việt cách mạng đảng (7 – 1928)

  1. Sự ra đời:
  • Tiền thân của Tân Việt Cách mạng đảng là Hội Phục Việt, được thành lập bởi một nhóm sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương và một số chính trị gia ở Bắc Kì.
  • Sau nhiều lần đổi tên, vào tháng 7 năm 1928, Tân Việt Cách mạng đảng ra đời.
  1. Thành phần và địa bàn hoạt động:
  • Tổ chức tập hợp các trí thức trẻ và thanh niên tư sản yêu nước.
  • Hoạt động chủ yếu tại Trung Kì.
  1. Các hoạt động chủ yếu:
  • Chủ tịch Hồ Chí Minh và tư tưởng cách mạng chủ nghĩa Mác – Lê-nin có ảnh hưởng lớn đối với Tân Việt Cách mạng đảng, thu hút nhiều đảng viên trẻ.
  • Nội bộ của Tân Việt diễn ra cuộc đấu tranh giữa hai trường phái tư tưởng: vô sản và tư sản.
  • Một số đảng viên tiên tiến của Tân Việt chuyển sang Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tích cực chuẩn bị thành lập một chính đảng kiểu mới.

III. Việt Nam quốc dân đảng và cuộc khởi nghĩa Yên Bái

a. Việt Nam Quốc dân đảng:

  • Hoàn cảnh ra đời:

    • Phong trào dân tộc dân chủ phát triển mạnh mẽ.
    • Ảnh hưởng của cách mạng Trung Quốc tác động mạnh mẽ đến việc thành lập Việt Nam Quốc dân đảng.
  • Sự ra đời:

    • Nhóm Nam Đồng thư xã – tiền thân của Việt Nam Quốc dân đảng.
    • Ngày 25 tháng 12 năm 1927, do Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài và Phó Đức Chính thành lập.
  • Xu hướng chính trị: theo xu hướng cách mạng dân chủ tư sản.

  • Địa bàn hoạt động: Bắc Kì.

  • Mục tiêu: đánh đuổi giặc Pháp, thiết lập chế độ dân quyền.

  • Thành phần: sinh viên, học sinh, công chức, tư sản lớp dưới, nông dân khá giả, địa chủ ở nông thôn, binh lính, hạ sĩ quan người Việt trong quân đội Pháp.

Xem thêm:  Soạn Sử 9 Bài 10: Các nước Tây Âu

b. Khởi nghĩa Yên Bái:

  • Nguyên nhân:

    • Sau vụ ám sát Ba-danh, Pháp tổ chức nhiều cuộc vây ráp, bắt giữ nhiều đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng và phá huỷ các cơ sở.
    • Đối mặt với tình thế khó khăn, lãnh đạo của Việt Nam Quốc dân đảng quyết định hành động.
  • Diễn biến:

    • Ngày 9 tháng 2 năm 1930, khởi nghĩa xảy ra tại Yên Bái, sau đó lan rộng đến Phú Thọ, Hải Dương, Thái Bình, Hà Nội với vụ ném bom.
    • Tại Yên Bái, quân khởi nghĩa chiếm được trại lính, giết và làm bị thương một số sĩ quan Pháp, nhưng cuối cùng bị quân Pháp tiêu diệt.
    • Ở các địa phương khác, quân khởi nghĩa tạm thời nắm quyền kiểm soát nhưng nhanh chóng bị địch phản công và chiếm lại.
  • Kết quả: khởi nghĩa thất bại nhanh chóng.

  • Nguyên nhân thất bại:

    • Về mặt khách quan: thực dân Pháp vẫn mạnh mẽ.
    • Về mặt chủ quan: Việt Nam Quốc dân đảng còn non yếu, không vững chắc về tổ chức và lãnh đạo.
  • Ý nghĩa lịch sử: tăng cường lòng yêu nước và sự căm thù của nhân dân với thực dân và tay sai.

IV. Ba tổ chức cộng sản nối tiếp nhau ra đời

  • Hoàn cảnh lịch sử:
    • Thập kỷ 1928 – 1929, phong trào dân tộc dân chủ phát triển mạnh mẽ.
    • Vào tháng 3 năm 1929, một số thành viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Bắc Kì thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên.
Xem thêm:  Soạn Sử 9 Bài 5: Các nước Đông Nam Á

Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên

  • Quá trình ra đời:

    • Tại Đại hội lần thứ nhất của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, đoàn đại biểu từ Bắc Kì kiến nghị thành lập Đảng Cộng sản nhưng không được chấp thuận.
    • Ngày 17 tháng 6 năm 1929, đại biểu từ các tổ chức cộng sản miền Bắc thành lập Đông Dương Cộng sản đảng, thông qua Tuyên ngôn, Điều lệ và ra báo Búa liềm làm cơ quan ngôn luận.
    • Tháng 8 năm 1929, thành viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Trung Quốc và Nam Kỳ thành lập An Nam Cộng sản đảng.
    • Tháng 9 năm 1929, các đảng viên tiên tiến của Tân Việt tách ra thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.
  • Ý nghĩa:

    • Đánh dấu sự trưởng thành của giai cấp công nhân và sự phát triển của phong trào cách mạng vô sản ở Việt Nam.
    • Là bước chuẩn bị quan trọng cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trả lời câu hỏi Sử 9 Bài 17 (trang 65 SGK Lịch Sử 9): Tân Việt Cách mạng đảng đã phân hóa trong hoàn cảnh nào?

Trả lời:

  • Tân Việt Cách mạng đảng tập hợp các trí thức trẻ và thanh niên tư sản yêu nước. Ban đầu, tổ chức chưa có lập trường giai cấp rõ rệt. Tuy nhiên, nhờ hoạt động mạnh mẽ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và tư tưởng cách mạng chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Tân Việt Cách mạng đảng đã phân hóa. Sự đấu tranh dữ dội diễn ra trong tổ chức giữa hai phái tư tưởng: vô sản và tư sản. Cuối cùng, phái tư tưởng vô sản đã chiếm thế thượng phong. Nhiều đảng viên của Tân Việt Cách mạng đảng đã chuyển sang Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và tích cực chuẩn bị các điều kiện cho việc thành lập một chính đảng mới theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin.